3.HùngCaQLVNCH

Hùng Ca Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

 

Dưới bóng cờ Vàng, dân tộc Việt Nam muôn đời ghi nhớ công ơn của chiến sĩ QL Việt Nam Cộng Hòa, đã nằm xuống để bảo vệ nửa mảnh giang sơn của tổ quốc Việt Nam, chống lại sự xâm lăng của CS phương Bắc.

***

Rợ Tàu ghi nhớ ai ơi!
Làm con nước Việt muôn đời chớ quên.
Non sông muốn được lâu bền,
Tận trung báo quốc, không sờn quyết tâm.
Đất trời thấu tỏ tấm lòng,
Xin vì non nước gắng công báo đền.

***

Đả đảo Trung Quốc xâm lược Việt Nam!

Đả đảo ĐCSVN bán nước!

Toàn dân quyết tâm lật đổ ĐCSVN phản quốc, bảo vệ biên cương phía Bắc!

Ải Nam Quan, thác Bản Giốc, Hoàng Sa & Trường Sa là của Việt Nam.

***

Đả đảo Trung Quốc xâm lược

 

Giòng máu anh hùng

*

Giờ Phản Công

Tất thép miền Nam ơi, giờ phản công đã tới

Ta xông lên giành tấc đất mến yêu

Hôm nay lửa soi đường về

Hiên ngang cùng tái chiếm

Quê xưa lìa bao  ngày vì quân thù
 

Ôi vùng Đông Hà ngày nào di tản đi

Ta hẹn trở về đất Quảng còn đây

Ơi, toàn dân ơi

Chúng ta đứng lên vì nước phản công

Ôi Bồng Sơn đây hướng về miền Tây nguyên

Nghe chim rừng đang hót giữa đêm reo mừng

Đường về Bình Long đang chờ ta đồng tiến

Đánh thắng quân cộng lập công
 

Quyết thắng cùng xông lên đập nát quân thù đó

Ta hiên ngang thề quyết chiến xâm lăng

Anh em tiến lên phục thù quân ta từ tám hướng

Mai đây là thanh bình về quê nhà./.

*

http://www.youtube.com/watch?v=z0h5sYvoO-M

*

Hổ Nhớ Rừng

Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt
Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua
Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ
Giương mắt bé giễu oai linh rừng thẳm

*
Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm
Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi
Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi
Với cặp báo chuồng bên vô tư lự

*

Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ
Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa
Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi
*

Với khi thét khúc trường ca dữ dội
Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng
Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng
Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc

*
Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc
Là khiến cho mọi vật đều im hơi
Ta biết ta chúa tể cả muôn loài
Giữa chốn thảo hoa không tên, không tuổi

*

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?
Đâu những ngày mưa mây chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới?
*
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt

*
Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?
– Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu!

Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu
Ghét những cảnh không đời nào thay đổi

*
Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối:
Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng
Dải nước đen giả suối, chẳng thông dòng
Len dưới nách những mô gò thấp kém
Dăm vừng lá hiền lành, không bí hiểm
Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu
Của chốn ngàn năm cao cả, âm u

*

Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ!
Là nơi giống hùm thiêng ta ngự trị
Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa
Nơi ta không còn được thấy bao giờ!
Có biết chăng trong những ngày ngao ngán
Ta đương theo giấc mộng ngàn to lớn
Để hồn ta phảng phất được gần ngươi
– Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!

T/g Thế Lữ

.

File:Epcotcanada.jpg

 

Khi Tôi Chết

Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển.
Đưa tôi về Lao-Bảo, Khe-Sanh.
Để đêm nghe vang dội khúc quân hành.
Ôi! Lính chiến, một thời kiêu hãnh quá!

Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển
Đưa tôi về Bến-Hét, Dakto.
Nơi bạn bè tôi xây mộng sông hồ
Nguyện trấn giữ dãy Trường-Sơn yêu quí.

Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển.
Đưa tôi về Bình Giả, Chiến Khu Đ.
Cho hồn tôi siêu thoát với lời thề:
“Thân chiến sĩ, nguyện xin đền nợ nước.”

Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển.
Đưa Tôi về Cái-Nước, Đầm-Dơi.
Đêm U-Minh, nghe tiếng thét vang trời.
Mừng chiến thắng để dâng về Tổ-Quốc.

Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển.
Trả tôi về với dân tộc Việt Nam.
Gói thân tôi ba sọc đỏ, màu Vàng.
Xin liệm kín với hồn thiêng sông núi.

T/g: Tr.T Nguyễn Văn Phán,

TĐT/TĐ8/TQLC/QLVNCH

***

Anh Về Quảng Trị Cờ Bay!

http://www.youtube.com/watch?v=JjfM6OgPLsc

***

Trên Đầu Súng Quê Hương _N/s Anh Việt Thu

http://www.youtube.com/watch?v=OhzElshNs4g&feature=related

– Trên đầu súng ta đi, tổ quốc đã vươn mình.

– Trên lưỡi lê căm hờn, hờn căm như triều sóng.

– Ôi xôn xao chiêng trống thôi thúc đã giục giã khắp chốn rộn ràng

– Ôi lửa thiêng dậy bập bùng tay đốt lửa tay vung kiếm.

– Trên đầu súng xâm lăng xiềng xích với bạo tàn.

– Trên lưỡi lê nô lệ cùm gông phải gục ngã.

– Tay nâng niu cây súng, súng thép với đạn đồng mới đã lên nòng.

– Và những loạt đạn đồng vàng vun lúa trổ tràn đồng sâu.

– Cho quê hương ta rạng ngời.

– Cho yêu thương cao vời vợi.

– Cho quê hương ta những đóa tuổi xuân.

– Để mai đây nghe nắng dậy hòa bình.

– Cho ông cha còn nắm đất phủ mình.

– Ôi quê hương ta nước Việt Nam từ đó dâng lên nhà máy với công trường.

–  Những xí nghiệp ngôi trường, nhà thương và hầm mỏ.

– Ôi bao la thăm thẳm bát ngát cánh đồng vàng với lũy tre xanh,

– và tiếng ê-a đầu làng là kinh nguyện cầu cho người gục xuống…

***

http://www.youtube.com/watch?v=_lYJixcjTuM&feature=related

***

Hùng Ca Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù!

http://www.youtube.com/watch?v=_K6_eqIVpzE

***

Thiết Giáp Binh Hành Khúc!

 http://www.youtube.com/watch?v=ZB_2LdkaxW0

***

Nhạc:  Từng bước chân Anh đi!

T/g: unknown. Ca sĩ: Quốc Anh

Từng bước chân anh đi trên đồi hoang, đồi loang máu.
Từng bước chân anh đi băng rừng sâu giết quân cộng.

Từ Hạ-Lào qua Campuchia, phơi xác thù trên khắp
chiến tuyến, anh vẫn còn hăng say lập bao chiến công.

Chiến khu Đ, Đồng Tháp, Tam-Biên, Dưong Minh Châu,
khu Tam Giác Sắt mây mù.

Mật khu quân giặc khiếp kinh, vang danh đắc thắng chiến
binh Cộng Hòa.

Ơi! Đây Gio-Linh, Đông-Hà, Khe-Sanh, làng Vèi.
Đồi Dakto, Kontum, chiến công anh làm quân cộng hải hùng.

Đây Ba-Lòng, A-shau, A-Lưới. 
Đây Bình-Giả, U-Minh, Đồng-Xoài, mà anh vẫn đi!

Súng anh trên vai giết thù. Vạn bàn tay căm hờn dâng lên.
Anh đi có chúng em mong.
Quê nhà hậu tuyến một lòng đợi anh.
Anh chiến binh cộng hòa.

***

Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam -QL VNCH

http://www.tqlcvn.org/

***

AK kẹt đạn

MX Văn Tấn Thạch

Trong thời gian tham dự trận Quảng Trị, Đại đội 3 đến đóng ở một ngôi làng phía Bắc Cổ thành. Làng được bao bọc bỡi những lũy tre, cách làng chừng 5O mét nhấp nhô những gò mả. Xa hơn khoảng 2OO mét là vị trí đóng quân của Cộng sản. Chính ở cái địa thế nguy hiểm này, nhiều đơn vị bạn đã bị tổn thất mỗi khi bị địch tấn công. Trung đội tôi rãi quân ở mặt chính, đối diện với địch. Bên hướng Tây kế tôi là Trung đội của Trung úy Bông. Chúng tôi ở đây được hai đêm vô sự, qua đêm thứ ba khoảng 3 giờ sáng địch bắt đầu pháo kích. Những quả trọng pháo với đầu đạn nổ chậm đã làm sụp đổ nhiều hầm hố cá nhân. Sau đợt pháo, Việt cộng dùng B.4O, B.41 bắn như mưa vào phòng tuyến của quân ta, biết là địch sắp tấn công chúng tôi chuẩn bị sẵn sàng để đối phó. Trong khi đó bọn chúng dùng cảm tử quân để tìm cách mở đường cho cuộc tấn công. Tôi cho anh em đứng dọc theo giao thông hào, không xử dụng súng cá nhân nếu không cần thiết. Địch bắt đầu ném lựu đạn vào phòng tuyến, những tiếng nổ chát chúa vang rền cho chúng tôi biết là đã đến giờ quyết định. Trong bóng đêm, tôi nghe ngóng nơi nào có động tĩnh hay khả nghi là tôi ném lựu đạn vào đó ngay. Những trái B.4O, B.41 làm bốc cháy một số lều cũng như hàng rào tre soi cho tôi bắn gục tại chỗ những tên cảm tử đi đầu nên chúng không thể tiến hành cuộc xung phong được.

Pháo binh của ta làm việc không ngừng và chính xác vô cùng, đôi lúc tôi điều chỉnh chỉ cách 5O mét, chính vì vậy mà đoàn Cộng quân ở phía sau chờ tấn công đã bị nhiều tổn thất. Gần 5 giờ sáng, tôi đã xữ dụng gần hết một thùng lựu đạn với cây súng M.79 trang bị đạn chày thủ sẵn trong tay, tôi biết đã đến lúc tử chiến. Quả thật bên cánh trái tôi, tiếng địch xung phong vang dội, Trung đội của Bông bỏ chạy hết về phía sau mà tôi nào có hay. ở bên mặt, lính của tôi cũng bỏ hầm hố đi gần hết mà tôi nào có biết. Bốn năm thầy trò tôi vẫn ung dung với sự tin tưởng tuyệt đối thể nào bọn chúng cũng phải rút lui và những tên nằm chết trên kia cũng sẽ bị bỏ lại… Tiếng chân người chạy nhốn nháo chen lẫn với tiếng súng nổ, tôi vừa quay lại không đầy 3 thước thì thấy có một người lính chạy về hướng tôi.

– Cái gì đó ?

Tôi la chỉ vừa đủ cho anh ta nghe, nhưng anh không trả lời mà đưa súng lên nhắm vào tôi mà nhả đạn. Trong giây phút thập tử nhất sanh đó, tôi nhận ra người này không phải là bạn thì đã quá trễ. Tôi la lớn

– Việt cộng, Việt cộng.

Và mấy thầy trò tôi đồng loạt nhảy lên khỏi giao thông hào, lăn mấy vòng rồi chạy về hướng sau. Tiếng bê-ta nổ dội ngược từ trong hầm chỉ huy của tôi, tiếp theo là những vệt sáng dài với tiếng chát chúa nổ theo hướng tôi chạy. Kỳ lạ tôi đang đợi loạt đạn AK bắn ra, vì tôi thấy tên Việt cộng đã đưa súng lên và nhắm vào tôi kia mà. Nhưng nghi vấn kia liền tan biến khi tôi thấy từng nhóm 7-8 người ngồi chụm lại xầm xì to nhỏ như đang bàn thảo kế hoạch, và có cả lính của Trung đội tôi nữa. Tôi la lớn:

– Sao ngồi đây?.

Có người nói vọng lại:

– Ngồi chờ tụi nó bắt sống !.

Tôi nổi máu anh hùng la hét inh ỏi:

– Lên, lên, Đ.M theo tao lên chiếm lại tuyến nhanh lên, nếu không chết hết cả đám.

Tôi, miệng nói chân đá đít mấy anh lính của mình. Dẫn đầu toán quân gồm những người thiện chiến, tôi cho binh sĩ chiếm lại từng vị trí, lựu đạn được chúng tôi xử dụng tối đa. Việt cộng vừa mới chiếm tuyến, chưa kịp chuẩn bị gì đã bị chúng tôi tấn công trở lại. Chúng hốt hoảng bỏ hầm chạy thoát ra phía ngoài hàng rào tre, thừa thắng xông lên chỉ trong một thời gian ngắn quân ta đã lấy lại toàn bộ vị trí của Trung đội tôi. Khi đến hầm chỉ huy của tôi, ngoài những tên Việt cộng đã bị bắn gục ngay từ đầu còn có 2 tên bị thương đang nằm rên rĩ, một tên khác vội vàng bỏ chạy…

Hiển nhiên là hắn không thể nào tốt số bằng tôi được nên đành theo Bác. Trước khi gặp được người suốt đời ám ảnh hắn còn la lớn:

– Đả đảo, đả đảo;  rồi im bặt.

Tôi không biết hắn định đả đảo ai, đế quốc Mỹ, Quốc gia hay Hồ Chí Minh ? Trời vừa sáng, tôi ra lệnh cho anh em dừng lại để chỉnh đốn lại hàng ngũ đồng thời trang bị thêm đạn dược. ở bên trái, cách mấy căn hầm, bọn Việt cộng vẫn còn cố thủ ở đó. Chiến xa M.48 được gởi đến và mãi tới 3 giờ chiều bọn chúng mới chịu hy sinh đồng chí cuối cùng. Trong suốt thời gian đánh nhau, Trung đội tôi có một đồng đội hy sinh và 2 người khác bị thương, trong khi đó xác Cộng quân nằm rãi rác đó đây… tên Việt cộng bị hạ sát sau cùng chính là tên đã dùng AK nhắm bắn vào tôi trong khoảng cách không đầy 3 mét. Hắn đã không bắn được tôi là vì súng kẹt đạn chứ không phải nhân đạo. Lúc chúng tôi đi thâu lượm vũ khí, tôi cầm khẩu AK của hắn lên xem thử, tôi không tài nào kéo cơ bẩm ra sau được. Thì ra điều khác thường này đã cứu sống tôi, không dùng được súng nữa hắn quay ra dùng lựu đạn. Tôi lại được một cái hên nữa là lựu đạn nội hóa Bê-ta không có sức công phá mạnh nên chúng tôi thoát thân một cách dễ dàng. Hắn đi về hầm chỉ huy và nghe thấy tiếng máy truyền tin mà anh liên lạc vô tuyến không mang theo được thì ngỡ là còn người trong đó nên ném thêm vài trái Bê-ta nữa. Rồi hắn trông thấy những trái khói màu tôi để trên miệng hố hắn cũng tháo chốt ném tiếp cho chắc ăn. Nào ngờ khi trái khói tung vào hầm không có lối thoát hơi nên dội ngược khói trở lại làm cho hắn cay mắt đành phản nằm đó chờ khói tan. Chính cái giây phút ngắn ngủi này đã cho tôi có cơ hội chuyển bại thành thắng. Sau này, mỗi lần nhớ lại trận đánh này, tôi thường nói với bạn bè rằng “Hay cũng không bằng hên”. Và quả thật tôi đã hên hơn tên Việt cộng kia nhiều lắm!

Người Phóng viên hăng hái

Trong thời gian đóng quân gần Cổ thành Quảng Trị để chờ tái chiếm, một hôm Đại đội trưởng cho hay, có một ông phóng viên chiến trường Mỹ muốn nhờ tôi hướng dẫn để anh ta chụp hình và săn tin. Tôi niềm nở đón anh và đưa đi vòng quanh chỉ những vị trí của ta cũng như địch. Sau khi chụp được những tấm hình ăn ý, anh dơ tay ra dấu hài lòng và cho biết sẽ có bài viết với những hình ảnh độc đáo trên báo, có cả hình tôi nữa … Nhìn đồng hồ đã hơn 3 giờ chiều, tôi muốn anh ta trở về phía sau cho đỡ nguy hiểm, anh lưỡng lự vài giây và nói “Two more”, tôi lại chỉ cho anh cảnh tên Việt cộng khác đang ngồi gác trên Cổ thành. Đưa ống nhắm lên, với vẽ khoái chí anh vẫy tôi tới gần để xem, tôi nghiêng người lại, đầu chúng tôi cách nhau chừng 2 tấc. Tôi chợt cảm thấy nóng xém ở tai, rồi một tiếng cốc và một tiếng nổ long trời, sự việc xảy ra nhanh đến nổi tôi không kịp có lấy một phản ứng nào cả. Quả M.79 nổ sau lưng không đầy 2 mét, đất cát văng tung tóe mà tôi và anh phóng viên đều không hề hấn gì. Chỉ có điều buồn cười là sau khi biết mình thoát chết, anh ngã lăn ra nằm bất động độ 5 phút. Tỉnh người lại mặt mày anh ta không còn một tí máu, nói không ra lời chỉ đưa tay vội vàng từ giã. Tôi cho người đưa anh về phía sau và tự hỏi không biết trên bước đường còn lại anh có dám tiếp tục hành nghề phóng viên chiến trường nữa không ?

Bị bom ném lầm

Vào một buổi trưa nóng bức, tôi chỉ mặc chiếc quần xà lỏn ngồi nhâm nhi tách cà phê mà lòng nhớ nhà da diết, nhất là nhớ người vợ đang có bầu sắp sinh. Đã hơn nửa năm hành quân, không biết bao giờ mới được trở về Sài Gòn thăm vợ con. Mấy người lính cũng chui vô hầm tránh nắng và ngủ trưa cả rồi, tôi hướng mắt về Cổ thành theo dõi phi cơ A.37 dội bom. Những trái bom xăng được lần lượt thả xuống, có trái bị gió thổi bay là đà rớt ngoài mục tiêu. Tôi lẩm nhẩm một mình: “ĐM, thả bom kiểu này thì thả làm cái quái gì”, rồi đưa mắt theo dõi tiếp. Chiếc A.37 đang vòng lại, nó nhào xuống và tôi thấy một quả bom xăng tách rời khỏi phi cơ, từ từ bay về hướng mình. Tôi lấy tay dụi mắt xem mình có bị quáng gà không, nhưng quả thật nó đang bay tới, thời gian qua nhanh bom rớt càng lẹ. Tôi không biết làm gì hơn là chờ và mong quả bom sẽ không rơi trúng mình. Một tiếng nổ ầm, theo sau là lửa, lửa bốc vào những tấm poncho che nắng bốc cháy xèo xèo. Phản ứng cầu may, tôi đứng dậy cầm chiếc áo quay tròn quanh người, vừa quay vừa chạy, chiếc áo cũng bắt đầu bốc cháy. Tôi cứ thế mà chạy cho đến khi chiếc áo cháy gần hết, tôi ném áo chạy tiếp. Khi dừng lại, tôi rất mừng khi thấy mình không bị một vết phỏng nào cả. Có người sung sướng vì được thăng quan tiến chức, có người sung sướng vì hạnh phúc giàu sang, còn lính Thủy Quân Lục Chiến như chúng tôi đây thì sung sướng vì đã không chết kỳ này. Thôi, đây là cái nghiệp của người lính chiến.
 

***

Đường Tơ Kẽ Tóc

MX Văn Tấn Thạch

Thoát chết vì một quả đạn105 gài sẵn

Vào năm 1968, khi Tiểu đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến hành quân vùng U Minh, tôi đang là Trung đội trưởng Trung đội 2, Tiểu đoàn 3 dưới quyền Trung úy Nư mà chúng tôi thường gọi là Trâu Nước. Một buổi sáng tôi được lệnh dẫn Trung đội mở đường đi đầu. Cơm nước vừa xong, tôi cho con cái từ từ tiến bước, xuyên qua các bờ mương, ruộng rẫy. Anh em binh sĩ vừa đi vừa lục soát dọc theo một con kinh nhỏ. Trước mặt chúng tôi là một khu đất bằng phẳng khá rộng, có vài căn nhà lá bỏ hoang với những giàn bầu giàn bí đong đưa những quả xanh mướt tràn đầy nhựa sống. Tôi dặn dò con cái cẩn thận, coi chừng mìn bẫy, đặc biệt là du kích bắn sẻ. Tiểu đội đi đầu lục soát an toàn, cả Trung đội trải rộng quanh khu đất trống, tôi muốn được dừng lại nghỉ ngơi đôi chút vì mặt trời cũng đã gần đứng bóng. Đại đội trưởng Nư ra lệnh tôi cho con cái dừng lại ăn trưa thật là đúng lúc. Trung đội chúng tôi quay quần dưới gốc một giàn bầu, thức ăn sắp được mang ra, tôi nghĩ bụng hôm nay hên vì gặp được một chỗ nghỉ trưa lý tưởng. Trong lúc thầy trò đang loay hoay tôi thấy một toán người ở phía sau ùn ùn kéo đến. Nhìn kỹ lại là Đại đội trưởng Nư và đám tùy tùng của ông chừng 3O người. Thấy thầy trò tôi đóng ở chỗ tốt quá, ông bảo chúng tôi nhường lại, tôi kêu đệ tử thu xếp thức ăn vừa được bày ra để di chuyển đi chỗ khác mà lòng hậm hực. Chúng tôi rời vị trí và đi được khoảng 1OO mét thì dừng lại tiếp tục ăn trưa. Toán của Đại đội trưởng Nư đã thay vào vị trí mà chúng tôi vừa rời. Bỗng tôi nghe một tiếng nổ long trời, xác người tung lên, khói bay mù mịt, tiếng rên la thảm thiết. Hơn 3O người nằm la liệt, máu me lai láng, có một người lính chết không toàn thây vì anh đã ngồi đúng vào chỗ có gài đạn mà tôi đã ngồi trước đó vài phút. Thật là tội nghiệp cho anh ta, định mệnh đã khiến anh chết thay cho tôi, nếu không có việc ông Đại đội trưởng bảo đi chỗ khác thì tôi không thể nào thoát được tay tử thần. Mặc dầu ngồi cách xa trên 1OO mét tôi cũng vẫn bị một mảnh to cở ngón tay cái ghim vào bụng và cho đến giờ này nó vẫn còn đóng đô ở trong người tôi.

Thoát hiểm lần thứ hai

Khi đơn vị hành quân quanh quận Đầm Dơi, sau một ngày lội sình băng đồng mọi người đều mệt lã. Chiều đến, khi dừng lại đóng quân, tôi đi vòng vòng tìm chỗ nghỉ ngơi. Hên quá tôi thấy được 2 gốc cây vừa đủ để treo võng. Trong lúc đệ tử đang lo cơm nước thì tôi cởi giày vớ leo lên võng nằm đong đưa. Được một lát, tôi thấy không an tâm bèn ngồi dậy đi quanh tuyến đóng quân để xem lại tình hình. Trở lại võng, trong lúc lom khom cỡi giày tôi thấy có một sợi dây cước nối liền 2 cây lại với nhau. Tôi chăm chú xem xét, thì ra địch cài một quả bom to bằng trái đạn 1O5 ly trên cành cây. Tôi rón rén bước khỏi khu cài võng và đi gọi nhân viên tháo gỡ đạn dược để họ đem quả bom đó đi. Điều đáng nói ở đây là tôi đã đi qua đi lại rất nhiều lần ở chỗ này trước khi thấy sợi dây cước mà tôi vẫn tránh được cái bẫy một cách lạ lùng. Phải chăng có ai đó đã giúp đỡ tôi khỏi bị tan xác ở Đầm Dơi ?

Thoát chết ở Hạ Lào

Vào giai đoạn cuối của cuộc hành quân Lam Sơn 719, hầu hết các đơn vị đều phải rút về Khe Sanh một cách vội vã. Địch đuổi theo bén gót, chúng tôi phải đi ban đêm mới đến được một đỉnh núi cao của dãy Koroc đối diện với đèo Lao Bảo. Ngày hôm sau chúng tôi được trực thăng đón về Khe Sanh, bãi đáp nhỏ bằng 1/5 sân đá banh. Trực thăng bay vòng vòng rồi đáp xuống chừng vài phút là phải bay lên liền vì sợ địch pháo kích. ở vị trí này địch pháo rất chính xác, mỗi lần trực thăng sà xuống chỉ vớt được khoảng 5 đến 7 người, có khi 1 hay 2 người. Trung đội tôi nằm sát bờ đá, khi phi cơ vừa hạ thì 1 toán lính chạy ào lên. Đến lượt tôi và 4 người khác vừa chạy tới bãi đáp, chưa kịp nhảy lên thì phi cơ đã vội vàng cất cánh. Có lẽ phi công đã nghe tiếng đề-pa của súng cối, chúng tôi lưỡng lự chốc lát rồi vội vàng trở về chỗ trú ẩn. Lập tức 2 quả đạn cối rớt ngay chỗ chúng tôi vừa rời trong đường tơ kẻ tóc. Quả tình nếu chậm vài giây nữa, anh em chúng tôi đã vĩnh viễn ở lại Hạ Lào rồi.

Những Phép Nhiệm Mầu Nào ?

Thật là may mắn cho những ai đã từng là lính Thủy Quân Lục Chiến của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa và còn sống sót cho đến ngày hôm nay, may mắn hơn nữa là những người thân thể còn nguyên vẹn. Những mẫu chuyện tôi ghi lại sau đây để cho bạn bè, cho độc giả, cho con cháu đời sau, thấy được những “cửa tử” mà người lính mũ xanh đã phải trải qua trong cuộc đời binh nghiệp của họ. Tôi vẫn thường tự an ủi mình là người may mắn trong số những người đã may mắn còn sống sót. Đa số anh em Thủy Quân Lục Chiến chúng tôi không ai là không có một lần thoát chết trong đường tơ kẻ tóc.

Tối ngày 30 tháng 3 năm 1972

Ngày 3O tháng 3 năm 1972, Việt cộng tấn công thẳng vào vỹ tuyến 17. Tiểu đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến đang dưỡng quân ở căn cứ Mỹ Chánh đã phải di chuyển ban đêm ra Ái Tử, đến Bộ Tư lệnh tiền phương của Sư đoàn 3 Bộ binh. Mười hai giờ đêm, trời tối không thấy gì cả, địch pháo kích tứ bề, cả ngàn quả đạn rơi vào căn cứ. Tôi dẫn Trung đội tìm một cái hố to để tránh pháo, đây là nơi để quân xa, tôi cho anh em căn lều tạm và ngủ ngay trên miệng hố. Đạn pháo vẫn tiếp tục nổ vang rền, lính thì anh nào anh nấy đều mệt, phần thì buồn ngủ nên địch pháo cũng thây kệ, ta cứ ngủ có gì nhảy đại xuống hố là xong. Đang mơ màng trong giấc ngủ chập chờn thì một tiếng nổ long trời lở đất xé rách tấm poncho tôi đang nằm. Anh đầu bếp và tôi nằm hai bên anh lính truyền tin tên Thành. Mảnh đạn bay thế nào mà anh Thành lại bị gãy chân trái, máu me lai láng. Tôi sờ người mình cũng thấy đầy máu nên ngỡ mình bị thương, nhưng cuối cùng chỉ có một mình anh Thành gặp nạn thôi, anh đầu bếp và tôi đều bình an vô sự.

Kề cận cái chết

Khi Việt cộng lăm le tràn qua sông Đông Hà, chúng đã bị Tiểu đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến chận lại ngay hướng Bắc bờ sông. Tiểu đoàn bố trí dọc theo bờ sông hướng Nam, Trung đội tôi bảo vệ mặt sau của Tiểu đoàn. Khoảng 3 giờ chiều, Tiểu đoàn trưởng Lê Bá Bình ra lệnh cho tôi dẫn Trung đội đến án ngữ ở ngôi làng hướng Đông Bắc thị xã. ở bờ sông phía Bắc, Thiết giáp địch đang lăm le tràn qua sông, ngay trên cầu Đông Hà một chiếc T.54 đã bị quân ta bắn cháy. Cầu đã bị giật sập, Việt cộng chỉ còn chờ cơ hội khác nên chúng pháo kích lu bù vào vị trí của ta. Sau khi bố trí binh sĩ xong, tôi đi vòng quan sát tình thế. Địch ở bên kia sông ẩn hiện đó đây, tôi yêu cầu pháo binh, những tràng 1O5 ly của ta rót rất chính xác vào vị trí địch đã làm tăng thêm tinh thần anh em binh sĩ. Thình lình một quả pháo rớt ngay giữa vị trí đóng quân của tôi, mọi người nhốn nháo, tôi thì tìm chỗ ẩn nấp tạm. Một quả nữa, rồi hai, ba…và lên đến hàng trăm quả. Những cột khói bốc cháy, những căn nhà tung lên cao, tôi la lớn để gọi anh em binh sĩ chạy. Tôi không hiểu đạn từ đâu bắn tới, chắc chắn không phải là pháo địch rồi. Hớt hãi chạy ra khỏi làng, tôi cố gắng liên lạc với Tiểu đoàn mà không được. Cả Trung đội tràn ra cánh đồng trống ở phía sau, pháo binh tiếp tục rót vào làng càng lúc càng nhiều. Chạy ra khỏi bìa làng, nhìn lại thấy con cái kẻ bị thương, người rách quần áo, đứa cháy ba lô… mà xót xa. Tôi lấy lại bình tỉnh, kiểm điểm binh sĩ, may mắn thay chỉ có vài người bị thương xoàng. Ngôi làng đã trở thành bình địa, căn nhà tôi vừa ẩn nấp cách đây vài phút nay chỉ còn đám tro tàn. Điều tôi muốn nói ở đây là trong lúc tinh thần không kịp chuẩn bị để đối phó với một loại pháo kích nhầm của gà nhà như vậy, nhờ vào sự rút quân vô trật tự, không lệnh lạc trên đã cứu được biết bao sinh mạng của anh em, trong đó có cả cá nhân tôi.

Lần thoát chết vì đạn pháo kích không nổ

Sau một thời gian chận địch ở thị xã Đông Hà, Tiểu đoàn được lệnh rút về phía sau để binh sĩ có cơ hội nghỉ ngơi. Một buổi sáng nọ, Cộng quân pháo kích như thường lệ, đạn nổ đó đây, nhưng lần này chúng không nhắm vào vị trí chúng tôi nên anh em cứ cà phê cà pháo nhâm nhi. Tôi đang cùng anh lính chuyện trò tương đắc bỗng nhiên có một quả 82 ly rớt ngay trước mặt không đầy một thước. Phản ứng tự nhiên là chúng tôi nằm rạp xuống mặt đất chờ đạn nổ và cũng để chờ chết vì quá gần và đã quá trễ để chạy. Giây phút trôi qua chậm chạp kỳ lạ, và sao đạn vẫn không nổ. Trong lúc ấy thì anh lính lại ôm chân la đau quá, tôi choàng ngồi dậy, quả đạn súng cối vẫn còn nằm lì ở đó. Thì ra viên đạn bị tịt ngòi, trong lúc chạm đất nó đụng phải một viên sỏi và viên sỏi đã bị hất tung lên làm cho anh lính bị thương nhẹ, trầy sướt sơ sơ thôi. Số chúng tôi chưa tới lúc chết !

Thoát chết vì sự ngẫu nhiên

Vài tuần sau, địch pháo kích dữ dội vào một buổi trưa, vì đã chuẩn bị kỹ càng hầm hố cá nhân tương đối an toàn nên đạn cỡ 61 hay 82 ly không làm chúng tôi lo lắng. Nhìn qua lỗ châu mai tôi thấy những cụm khói rãi rác đó đây cùng những tiếng nổ xa gần… Lần này địch pháo tương đối chính xác, tôi chăm chú theo dõi mà quên đi những nguy hiểm đang chờ sẵn bên mình. Thời gian trôi qua cũng hơi lâu mà địch vẫn tiếp tục pháo kích, tôi thấy mắt mình hơi mỏi nên đưa tay dụi và ngồi xuống dự định nghỉ ngơi một chút rồi theo dõi tiếp. Tôi vừa rời lỗ châu mai thì một anh lính khác chồm tới thay thế, bỗng anh kêu thất thanh lên và ngã ra trút hơi thở cuối cùng. Một mảnh đạn pháo 82 ly ghim thẳng vào đầu, anh không kịp trăn trối lại cho ai lời nào. Tôi sững sờ ôm xác anh như một kẻ mất hồn. Người chiến hữu vô phước của tôi ơi, anh đã thay tôi để trả nợ núi sông, tôi vô cùng đau xót khi nghĩ tới gia đình anh lúc nhận được hung tin này.
 

***

TĐ3/TQLC – Đối diện chiến xa địch

MX Văn Tấn Thạch

Sau khi Quảng Trị rơi vào tay địch, phòng tuyến Mỹ Chánh trở thành làn ranh tạm phân chia Nam Bắc, địch đã mở nhiều cuộc tấn công thăm dò vào vị trí của quân ta. Tôi còn nhớ một trong những trận đánh thăm dò lớn nhất của Cộng quân bằng chiến xa. Chiều ngày 22/5/72 các tổ tiền đồn đã nhìn thấy thiết giáp địch ẩn hiện ở ven làng mạc về hướng Bắc của Mỹ Chánh. Trời càng về chiều chiến xa địch càng xuất hiện nhiều hơn, Pháo binh và phi cơ được gọi tăng cường tối đa, tuy nhiên có lẽ vì tấn công toàn diện nên hỏa lực yểm trợ của ta cũng bị giới hạn đáng kể. Mặt trời vừa sụp xuống là những chiếc T.54 đã vượt qua khỏi cánh B của Tiểu đoàn 3. Đại đội 3 hầu như tan rã, một số chạy dọc theo bờ sông về hướng phá Tam Giang, một số lội sông qua bờ hướng Tây với hy vọng gặp được cánh A, nơi Bộ chỉ huy đang bố trí ở làng Cổ Lũy cách dòng sông chừng một cây số. ở đây, lực lượng chủ lực chính của Đại đội chỉ huy là Trung đội vũ khí nặng 81 ly mà lúc ấy tôi là Trung đội trưởng. Tôi lãnh phần trách nhiệm bố trí ở hướng Bắc và hướng Đông, phần còn lại là do các ban sở đảm trách, gồm có Quân y, Truyền tin, An ninh, các ban 1-5 cũng như Tiểu đội Biệt kích để bảo vệ Tiểu đoàn trưởng. Từ 9 giờ tối, không lúc nào tôi rời máy truyền tin, tôi liên tục điều chỉnh Pháo binh cũng như phi cơ quan sát. Tiếng động cơ Thiết giáp ngày càng gần và hướng về phía chúng tôi. Tôi yêu cầu Trung tá Bình cho tiếp tục pháo dọc theo con đường mòn mà tôi đoán là chiến xa địch đang dùng để tiến quân. Địch áp dụng chiến thuật khá hiệu nghiệm là cho xe chạy chừng vài phút rồi ngừng lại, tất cả đều tắt đèn. Cứ mỗi lần nghe tiếng máy nổ tôi lại kêu Pháo binh, sau những loạt pháo như vậy chúng ngừng và sau đó lại tiếp tục. Càng về khuya tiếng động cơ càng gần và tôi lại yêu cầu Pháo binh. Đến 4 giờ sáng, chiến xa địch bắt đầu đi ngang qua tuyến của tôi. (Ngay từ buổi chiều tôi đã trang bị cho tất cả binh sĩ, mỗi người 2 quả M.72 chống chiến xa, riêng tôi có một cây 2O2, loại súng có 4 viên đạn mà chúng tôi được trang bị từ ngày ở Hạ Lào về). Chúng tôi đợi chiếc thứ nhất, nhì… rồi đến thứ năm thì bắt đầu khai hỏa. Quả đầu tiên tôi bắn ra đúng ngay vào pháo tháp của chiếc T.54 thứ ba, xe ngừng lại lưœa bốc cháy rắc rắc. Liền sau đó tất cả binh sĩ đều hành động, những vệt sáng vụt bay ra, trái trúng trái trật. Tôi cũng hứng thú bắn thêm hai quả nữa, 3 chiếc T.54 nằm ụ tại chỗ, anh em lên tinh thần lắm nhưng giây phút vui mừng đó lại tan nhanh vì mỗi anh chỉ có 2 quả và đã xài hết rồi ! Về phía Cộng quân, có 2 chiếc không bị trúng đạn quay đầu vào tuyến đóng quân, mười mấy chiếc chạy sau cũng chuyển hướng dàn hàng ngang ủi đại vào vị trí của ta. Lựu đạn nổ vang rền, những tràng đại liên từ trên pháo tháp của tăng địch…sáng rợp trời đêm có lẽ cũng làm khiếp sợ một ít binh sĩ không có kinh nghiệm. Hai tăng địch đã vào đến Bộ chỉ huy Tiểu đòan, ủi sập các hầm hố cá nhân, cày nát lều chõng, mọi người đều chạy thoát thân. Phần tôi và các binh sĩ vẫn nằm yên tại chỗ, lúc này đã có hơn 1O chiếc tăng khác tràn vào tuyến. Đến đây lính tôi thực sự tan hàng, keœ chạy ra người chạy vô, tôi không còn kiểm soát được ai cả. Cầm máy truyền tin trong tay, tôi áp sát vào tai nghe lệnh Đại bàng Bắc Giang (Tiểu đoàn trưởng):

– Thạch Thảo, Thạch Thảo, nghe rõ trả lời.

– Thạch Thảo tôi nghe đây.

– Bây giờ anh ở đâu ? Phải cho con cái cố thủ.

Tôi vội vàng trình Bắc Giang là tôi vẫn cố thủ ở đây. Bắc Giang tiếp:

– Bây giờ anh cần gì ?

– Xin Đại bàng cho T.O.T vào ngay trên đầu tôi.

T.O.T là danh từ mà chúng tôi thường dùng để gọi Pháo binh bắn tiêu diệt một vị trí nào đó. ở bên kia đầu máy Bắc Giang la lớn:

– Không được, không được, như vậy mình sẽ chết cả lũ !

Tôi đáp gọn: “Không còn cách gì khác hơn, bọn nó đã tràn ngập cả rồi”. Sau đó tôi nghe tiếng xè xè trong máy rồi im bặt. Trong khoảnh khắc đó, một chiếc T.54 lù lù bò đến cách tôi chừng 1O thước. Cầm cây 2O2 trong tay với viên đạn cuối cùng, tôi từ từ đưa súng lên vai định bóp cò. Tôi biết đây là giây phút cuối cùng của đời mình, vài phút ngắn ngủi nữa tôi sẽ ra sao, hồn tôi sẽ về đâu, ôi cuộc đời của một người lính chiến… Một ý nghĩ thoáng qua đầu tôi rất nhanh, tôi tự biết rằng với khoảng cách quá gần như thế này, khi quả đạn được bắn ra cho dù địch không bắn lại, mình cũng bị sức dội của trái đạn làm cho mất mạng. Những tràng đại liên sáng ngời nhả từ xe tăng địch đã vô tình làm cho tôi hủy bỏ ý định trên.

Tôi vội vàng cúi người xuống ẩn mình vào bức tường đổ nát. Trời hãy còn quá tối, bởi vậy mà bọn chúng không nhìn thấy tôi. Những tiếng chưœi thề từ trên xe tăng lẫn tiếng xích sắt nghiền trên nhà, và chiếc T.54 từ từ chạy ngang chỗ tôi nấp không đầy 2 mét. Sau khi chiếc tăng đã qua, tôi để cây 2O2 xuống rồi đi bọc ra sau, tại đây tôi gặp Trung sĩ nhất Hạnh đang loay hoay không biết chạy hướng nào. Tôi bảo anh theo tôi, hai thầy trò men theo bờ tre, đi một đoạn chúng tôi đã ra khỏi làng. Tôi ngồi sát xuống đất quan sát thì thấy một dọc dài, định thần nhìn kỹ hơn thì ra cả Tiểu đoàn đều có mặt tại đây.

Tôi đi nhanh về phía trước và gặp Tiểu đoàn trưởng, cố vấn Mỹ, ban 3, cùng các sĩ quan các ban khác… có tiếng máy xì xào của anh cố vấn Mỹ có lẽ để xin cứu nạn. Tôi nói với Trung tá Bình: “Đại bàng phải tìm cách chứ ngồi đây là bị bắt cả đám, tụi nó sắp ra tới nơi rồi !”. Đại úy Bằng nhanh miệng bảo tôi mở đường lẹ lên. Mọi người bắt đầu di chuyển, theo sát tôi có Đại úy Bằng ban 3, Thiếu úy Chánh ban 5, Trung úy Hào ban 2. Phần còn lại đi chung với Tiểu đoàn trưởng, trong đó có anh Các, Trung đội trưởng Trung đội truyền tin, người bạn chí thân của tôi.

Đi được một khúc, tôi lủi vào bụi tre trải vội tấm bản đồ, ba bốn anh em khác ngồi lại che khuất ánh đèn Pin. Tôi quyết định mở đường đi ngược về hướng Bắc để trở ra đồng trống, và may mắn thay tôi đã tính đúng đường nếu không là chúng tôi đã bị bắt sạch vì ngoài Thiết giáp địch còn bố trí Bộ binh cùng khắp các lũy tre quanh làng. Đoàn người nối đuôi theo sau, tôi chợt nghe tiếng AK nổ dòn, Bộ binh địch đã cắt đứt Tiểu đoàn ra làm hai. Trên 5O người theo tôi tiếp tục di chuyển, phần còn lại bị đánh ngược qua một bên, sau đó tôi không liên lạc được với họ nữa.

Những loạt AK vừa rồi đã lấy đi sinh mạng của anh Các bạn tôi, (anh xuất thân từ Hạ sĩ quan Hải quân, được đi học khóa Sĩ quan Thủ Đức đặc biệt. Các về Tiểu đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến làm sĩ quan Truyền tin sau một thời gian thụ huấn tại trường Truyền tin Vũng Tàu. Tôi và Các xem nhau như anh em ruột thịt, nhớ lại những ngày đơn vị cắm trại 1OO% mà tôi và Các vẫn ung dung ở Sài Gòn vì chúng tôi tìm đủ mọi mánh khóe để có thể ra khỏi trại mà ít ai trong bạn bè làm được).

Theo lời kể lại, anh Các chỉ la được hai tiếng “chết tôi” rồi ngã quÿ, mọi người chạy tán loạn. Sáng hôm sau, Tiểu đoàn trở lại vị trí cũ nhưng không tìm thấy xác anh đâu cả. Sau này mỗi lần về thăm gia đình anh Các, vợ anh cứ nài nỉ tôi nói cho chị biết là anh Các còn sống hay đã chết, tôi chỉ biết xoa đầu đứa con gái anh mà nước mắt như muốn tuôn ra. Trở lại câu chuyện tôi dẫn đầu toán 5O anh em gồm đủ mọi thành phần của Đại đội Chỉ huy, trời lúc đó đã bắt đầu sáng hẳn, chúng tôi nhìn thấy rõ chiến xa địch bao quanh làng cùng lính bộ đội đông nghẹt. Bên ta kiểm điểm lại quân số có 52 người, trên phân nưœa không có súng hoặc có súng mà không còn đạn.

Tôi chia ra từng toán nhỏ, keœ có súng bảo vệ người tay không rồi bắt đầu đổi hướng về phía Phá Tam Giang. Nhờ còn vững tinh thần nên trên đường đi chúng tôi đã đẩy lui được nhiều tổ đóng chốt của quân Bắc Việt. Đến 3 giờ chiều cả toán quân đều mệt lã vì di chuyển chậm chạp và địa thế khó khăn, toàn đồng ruộng sình lầy. Toán đi đầu phát hiện ở trước mặt có một đoàn quân đang di chuyển về hướng chúng tôi và phỏng đoán cở trên 1OO người, một số anh em tưởng đó là đơn vị bạn ra tiếp viện cho chúng tôi, nhưng tôi dè dặt bảo anh em nên cẩn thận.

Lúc này hệ thống truyền tin coi như không có, vì sau một thời gian cố gắng liên lạc với Tiểu đoàn mà vô vọng, anh lính truyền tin đã xin được ném máy xuống nước cho đỡ nặng. Hai toán quân ngày càng gần nhau , tôi ra hiệu cho tất cả dừng lại, quan sát kỹ thì đó là quân chính quy Bắc Việt. Một màn đánh giặc mồm xảy ra thật là ngoạn mục, chúng tôi la lớn: “Đứng lại ! tất cả bỏ súng xuống, đầu hàng thì sống chống lại thì chết !”. Bọn Việt cộng bắt đầu nhả đạn về phía chúng tôi, những trái B.4O, B.41 không có công hiệu gì cho một trận đánh như thế này, đạn rơi xuống nước nổ nghe xèo xèo. Đổi lại ta cũng tặng cho chúng mấy quả M.79 nổ vang trời, cả đoàn quân của chúng nhào xuống mé sông cố thủ.

Đại uý Bằng dẫn đám lính tay không vừa hô xô phong vừa rút lui, hai bên chưœi nhau inh ỏi. Sau đó mạnh ai nấy đi, sau này mỗi lần nghĩ lại trận đánh giặc mồm đó, tôi cứ cười thầm một mình. Mãi đến gần 7 giờ tối chúng tôi mới về được đơn vị, và đến lúc này tôi mới hay tin người bạn thân thiết của mình đã ra người thiên cổ.

File:Fountain in Butchart Gardens, Victoria.JPG

***

Những Anh Hùng QLVNCH

Phạm Phong Dinh

Đất nước VN anh hùng hào kiệt đời nào cũng có. Những đấng tiền nhân tiên liệt đã chiến đấu và viết nên những trang sử chống xâm lược chói lọi nhất trong lịch sử nhân loại.

Giở lại những trang sử chiến đấu dũng mãnh và hào hùng của Quân Lực VNCH, nhân tưởng niệm ngày 30-04, là ngày nước VNCH thôi tồn tại, chúng tôi muốn kể lại cho các bạn trẻ VN công nghiệp chiến đấu và những giây phút chói chang cuối cùng của những vị thần tướng làm rạng danh nước Nam trên trường quốc tế: Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Thiếu Tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ.

Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam là hậu duệ của dòng họ Nguyễn Khoa danh tiếng ở đất Thần Kinh Huế mà các cụ tổ từ đời này sang đời nối tiếp đều có công trạng giúp Chúa Nguyễn mở mang bờ cõi về phương Nam, mà điểm dừng là mũi Cà Mau. ược hun đúc từ truyền thống ấy, Thiếu Tướng Nam thuở còn ở tuổi học sinh siêng năng chăm học, rất hiếu thảo với cha mẹ, ông thường nghiền ngẫm kinh Phật, sách triết học và Nho học. Người cũng rất say mê hội họa, âm nhạc và giỏi về nhạc lý. Sau này khi đã trở thành vị tướng Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh và rồi lên Tư Lệnh Quân Đoàn IV Quân Khu IV người nổi tiếng là vị tướng từ ái, thương lính yêu dân, rất được quân và dân Miền Tây kính trọng và yêu thương. Mỗi lần Thiếu Tướng Nam bay đến các tiểu khu (tỉnh) hay các đơn vị chiến trường nào, ông cũng đều không muốn làm phiền thuộc cấp vì chuyện ăn uống. Lắm lúc ông chỉ cần vài trái bắp luộc là đã xong cho một bữa trưa. Nếu ở Bộ Tư Lệnh thì người luôn luôn xuống Câu Lạc Bộ cùng dùng cơm với các sĩ quan, có gì ăn nấy. Là một Phật tử thuần thành, Thiếu Tướng Nam ăn chay 15 ngày mỗi tháng, cố gắng tôn trọng những giới cấm, tránh sát giới nhưng vẫn chu toàn bổn phận của một người lính chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Bà con thân hữu đến thăm ông thì được, nhưng để xin ân huệ hay nhờ vả đều nhận được sự từ chối thẳng thắn. Cuộc sống của người quá giản dị, không vợ con, không nhu cầu vật chất xa hoa, không gì hết, đơn giản đến mức trở thành huyền thoại.

Tướng Dương Văn Minh, người được Quốc Hội VNCH bỏ phiếu đa số chấp thuận lên nắm quyến Tổng Thống vỏn vẹn mới có ba ngày đã vội vã ra lệnh toàn Quân Lực VNCH buông súng thôi chiến đấu từ 10 giờ sáng ngày 30.04.1975.

Dưới Quân Khu IV (Miền Tây) các tướng lãnh của quân ta nào đâu chịu đầu hàng một cách nhục nhã như vậy. Đại cuộc không thành, thành mất thì tướng phải tuẫn tiết theo thành. Thiếu Tướng Nam lên xe đi vào Quân Y Viện Phan Thanh Giản Cần Thơ thăm những chiến hữu thương binh của người lần cuối cùng. Mối thương cảm vận nước đến hồi đen tối, chiến hữu gãy súng và thương phế binh chắc chắn sẽ bị quân địch tàn nhẫn đuổi ra nằm lê la trên hè phố bụi đất với những vết thương còn lở lói và rướm máu, đã làm cho đôi mắt của người sưng húp lên. Đến tối Thiếu Tướng Nam quay trở về dinh Tư Lệnh nằm bên bờ con sông Cái Khế và nhận được tin Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó quân Khu IV đã nổ súng tuẫn tiết trong văn phòng tại trại Lê Lợi.

Đến nửa đêm, Thiếu Tướng Nam trân trọng vận bộ lễ phục trắng của Quân Lực VNCH, với ngù vai, dây biểu chương, huy chương các loại gắn trên ngực áo, nghiêm chỉnh ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế sau bàn Tư Lệnh. Rồi người đưa khẩu Browning lên bắn vào màng tang, đầu người gục xuống về phía trái. Ngày hôm sau, các sĩ quan còn ở lại Bộ Tư Lệnh đã đứng nghiêm chào người anh hùng rồi an táng thi thể người trong Nghĩa Trang Quân Đội Cần Thợ Trong đầu năm 1994, thân nhân của Thiếu Tướng Nam đã xuống Cần Thơ bốc mộ, hỏa thiêu và mang tro cốt đem về thờ trong chùa Gia Lâm trên đường Lê Quang Định, quận Gò Vấp, Saigon.

Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó Quân Đoàn IV; Quân Khu IV đã tự sát trong văn phòng Tư Lệnh Phó tại Trại Lê Lợi nằm trên đường Hòa Bỉnh, Cần Thơ, trước Thiếu Tướng Nam vài tiếng đồng hồ. Tên tuổi của Chuẩn Tướng Hưng được biết đến từ khi ông còn là một sĩ quan chiến đấu trên chiến trường Miền Tây và được xưng tụng là một trong những con mãnh hổ dũng cảm nhất của Quân Lực VNCH. Từ chức vụ Đại Tá Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 31 thuộc Sư Đoàn 21 Bộ Binh, ông được điều động lên Quân Khu III làm Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh và được vinh thăng Chuẩn Tướng chỉ vài tháng trước khi chiến trận Mùa Hè Đỏ Lửa nổ lớn tại An Lộc trong năm 1972. Định mệnh đã chọn Chuẩn Tướng Hưng làm người tử thủ An Lộc và đánh thắng đến bốn sư đoàn địch, vang danh quân sử VN và chiến sử thế giới. Hình ảnh dũng cảm và quen thuộc mà chiến sĩ tử thủ An Lộc ngưỡng mộ người Tư Lệnh của họ, là chiến sĩ Lê Văn Hưng đầu đội nón sắt, quần lính, áo thun màu ô liu, tay xách cây M16 như bất cứ một người lính khinh binh nào, làm việc 24/24 giờ một ngày bên chiếc đèn vàng mù mờ ánh sáng, hay ra chiến hào khích lệ tinh thần binh sĩ và tỉ mỉ giảng giải cách sử dụng súng chống chiến xa M72 để bắn xe tăng địch.

Dưới sự chăm sóc và chỉ huy của Thiếu Tướng Nam và Chuẩn Tướng Hưng, Quân Đoàn IV gồm các Sư Đoàn 7, 9 và 21 Bộ Binh đã đem lại những ngày an bình cho người dân Miền Tây. Hai vị Tướng đã là một cặp chiến binh kiệt xuất tạo nên bức tường thành vững chắc cho Quân Khu IV. Cho đến cái ngày oan nghiệt 30.04.1975, hai vị Tướng nhiều lần nhận được lời đề nghị khẩn thiết của người Mỹ muốn giúp hai vị và gia đình di tản sang Hoa Kỳ, nhưng cả hai vị Tướng đã khẳng khái từ chối. Cho đến 4 giờ chiều cùng ngày, hai vị Thiếu Tướng còn cố liên lạc với các đơn vị hỏi xem có nhận được lệnh hành quân và phóng đồ bố trí chiến đấu chưa. Tất cả đều trả lời không. Hóa ra viên đại tá được giao trọng trách chuyển lệnh đã bỏ trốn mất. Hai vị Tướng tức uất thở than cho vận nước. Danh từ đầu hàng từ đầu cho đến tàn cuộc chiến rất xa lạ với người chiến sĩ QLVNCH. Chuẩn Tướng Hưng vẫn với bộ quân phục tác chiến bộ binh màu ô liu trở lại văn phòng Tư Lệnh Phó gặp lại vợ con nói lời vĩnh biệt và ân cần khuyên nhủ bà Chuẩn Tướng phu nhân gắng cắn răng sống nuôi con, dạy dỗ con nên người, nói cho chúng biết về người cha đã chết như thế nào cho tổ quốc. Người cũng trân trọng từ biệt các chiến hữu:

“Tôi không bỏ các anh để đưa vợ con ra ngoại quốc. Tôi cũng không thể chịu nhục đầu hàng. Các anh đã từng cộng tác với tôi, những lúc các anh lầm lỗi tôi có rầy lạ Xin các anh tha thứ cho tôi những lỗi lầm nếu có.”

Những người lính ôm lấy lá cờ vàng và cây súng thân thương vào lòng khóc nức nở. Họ biết giây phút vĩnh biệt người chủ tướng đã điểm. Chuẩn Tướng Hưng cố xô đẩy đuổi mọi người ra ngoài, bình thản đóng kín cửa văn phòng lại. Có tiếng súng nổ chát chúa từ bên trong vọng rạ Bà Hưng và các chiến hữu phá cửa xông vào. Chuẩn Tướng Hưng nằm ngã người tựa vào giường nửa trên nửa dưới, hai cánh tay dang ra và giật mạnh, toàn thân run rẩy từng cơn, đôi mắt còn mở to uất hờn. Người đã bắn vào tim để tỏ rõ tiết tháo một người Tướng lãnh của Quân Lực VNCH. Máu từ trong tim người thấm ướt mảng áo ngực và loang ra đỏ thắm tấm drap trắng. Thời điểm người anh hùng thăng thiên đúng 8 giờ 45 tối ngày 30.04.1975. Khoảng 11 giờ khuya, Thiếu Tướng Nam gọi điện qua chia buồn. Bà Thiếu Tướng Hưng nghe rõ tiếng thở dài của người Tư Lệnh phía bên kia đầu dây.

Trong cái ngày đau buồn ấy, tại bệnh viện Grall (Đồn Đất) Saigon, người ta đưa vào thi hài của Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn II; Quân Khu II, một chiến binh mà các cấp bậc đi lên đều được trao gắn vinh thăng tại mặt trận. Thiếu Tướng Phú đã uống thuốc độc chết cùng với vận nước. Từ cái ngày người bị trọng thương và sa vào tay giặc ở Điện Biên Phủ tháng 05.1954, rồi được trả về cho VNCH sau ngày ký Hiệp Định Geneva 20.07.1954, Thiếu Tướng Phú đã thề với lòng là người thà chết chứ không chịu nhục nhã lọt vào tay giặc một lần nữa. Lời thề ấy người đã giữ trọn, người chết đi mang theo một nỗi hận mất nước và một nỗi oan khuất về cuộc triệt thoái Quân Khu II không mong muốn. Còn nhớ tại trận Điện Biên Phủ, toàn tiểu đoàn của Đại Úy Phú chỉ còn có 100 tay súng mà phải ngăn chống một số lượng quân địch đông gấp hai mươi lần, ông dẫn quân lên đánh cận chiến với địch và giành lại được hơn 100 thước chiến hào.

Đại Úy Phú và một số các sĩ quan chỉ huy tiểu đoàn đều bị đạn địch quật ngã và một vài giờ sau đó bị sa vào tay giặc. Trong thời gian bị giặc bắt làm tù binh, bệnh phổi của Đại Úy Phú tái phát và ông mang bệnh lao. định mệnh vẫn còn muốn cho người anh hùng được sống, để tiếp tục chiến đấu cống hiến nhiều hơn nữa cho nền tự do của tổ quốc, sau tháng 07.1954 Đại Úy Phú được trả về cho VNCH. Vị Tướng mảnh khảnh người, khuôn mặt xương nhưng có cái bắt tay mềm mại ấm áp ấy đã nhanh chóng trở thành một trong những vị Tướng xuất sắc nhất của Quân Lực VNCH, lần lượt đảm nhiệm những chức vụ quan trọng: Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt, Tư Lệnh Biệt Khu 44 thuộc Miền Tây, Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh, và sau hết Tư Lệnh Quân Đoàn II; Quân Khu IỊ Chính là ở vị thế cực kỳ khó khăn này, Thiếu Tướng Phú phải đương đầu với nhiều vấn đề sinh tử có tầm vóc quốc gia, mà đã vượt ra khỏi quyền hạn nhỏ bé của ông. Người ta cho rằng việc thất thủ Ban Mê Thuột là do lỗi thiếu phán đoán của Thiếu Tướng Phú. Người ta chỉ có thể dùng quân luật và quân lệnh để bắt buộc Thiếu Tướng Phú thi hành lệnh rút quân, thậm chí đặt ông vào tình trạng bất khiển dụng vì lý do sức khỏe ngay trong ngày 14.03.1975, hai ngày trước khi Quân Đoàn II rút quân ra khỏi cao nguyên. Thiếu Tướng Phú đau lòng theo dõi các mũi tiến quân của địch, như những vết dầu loang nhanh chóng thấm đỏ hết hai phần ba lãnh thổ VNCH.

Người biết cái sinh mạng nhỏ bé của mình cũng co ngắn lại cùng với số mệnh của đất nước. Rồi khi những chiếc khăn rằn và những chiếc áo màu xanh rêu mốc đã tràn ngập khắp phố phường Saigon trong ngày 30.04.1975, người chọn cái chết lưu danh thanh sử bằng cách uống độc dược, để tỏ rõ ý chí bất khuất của người làm Tướng và chứng tỏ cho đối phương biết rằng họ có thể chiếm được đất nhưng không có thể quy phục được tiết tháo của những người lính Quân Lực VNCH.

Một trong những hồi ức rất đẹp và rất hào hùng mà Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ còn để lại trong chiến sử VN, là lúc ông cầm khẩu súng chống chiến xa M72 nhoài người lên khỏi hầm chỉ huy của Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng tại An Lộc bắn cháy một chiếc T54 chạy lần quầng sát một bên, trong lúc Chuẩn Tướng Hưng đã thủ sẵn một trái lựu đạn trong tay để cùng chết với quân địch. Đại Tá Vỹ đích thực là một khuôn mặt lừng lẫy của Miền Đông khi ông về phục vụ dưới cờ của Sư Đoàn 5 Bộ Binh từ năm 1968. Đại Tá Vỹ nổi danh là một chiến binh quả cảm, một sĩ quan mẫn cán, năng nổ, có tài tham mưu và chỉ huỵ Sau chiến thắng An Lộc, Đại Tá Vỹ được đề bạt lên làm Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 21 Bộ Binh, cho đến gần cuối năm 1974, sau một khóa học Chỉ Huy và Tham Mưu Cao Cấp bên Hoa Kỳ về, cái ghế và văn phòng Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh đang chờ đợi ông, cùng với chiếc lon mới Chuẩn Tướng. Chuẩn Tướng Vỹ dưới con mắt nể trọng của chiến sĩ Sư Đoàn 5 Bộ Binh, là một vị chỉ huy siêng năng và đáng kính. Người nổi tiếng thanh liêm và chống tham nhũng, bản tính của người bộc trực và dễ nổi nóng trước cái ác và cái xấu. Một số sĩ quan trong sư đoàn làm chuyện càn quấy, ăn chận trên xương máu của chiến sĩ đều bị người trừng trị thẳng cánh. Chuẩn Tướng Vỹ là một trong những vị Tướng hiếm hoi có tinh thần tự trọng cao độ, không bao giờ ỷ lại vào mọi sự trợ giúp từ phía Hoa Kỳ. Người ta nhìn thấy ở ông một tinh thần tự lực cánh sinh và có nhiều sáng kiến khi phải đương đầu với những vấn đề khó khăn. Về mặt quân sự, người có một tầm nhìn chiến lược rất bao quát và thường hay bày tỏ với các sĩ quan tham mưu:

“Tôi nghi ngờ chúng nó không đánh mình ngoài này mà sẽ tìm cách len lỏi đi thẳng về Saigon”. Sự phán đoán đó về sau đã hoàn toàn đúng. Một quân đoàn Bắc Việt không giao chiến với Sư Đoàn 5 Bộ Binh, mà tìm cách len lỏi xuyên qua những điểm bố trí của sư đoàn, hối hả tiến về Saigon để dứt điểm Tướng Dương Văn Minh. Sáng ngày 30.4.1975 họp tham mưu sư đoàn xong, Chuẩn Tướng Vỹ và toàn ban sĩ quan ngồi bên chiếc máy thu thanh chờ nghe Tướng Minh đọc nhật lệnh quan trọng. Trong thâm tâm Chuẩn Tướng Vỹ, người cứ tưởng là Tướng Minh sẽ kêu gọi toàn quân chiến đấu đến cùng, hoặc di tản về Miền Tây tiếp tục đánh. Thực chất chỉ là một bản nhật lệnh ngắn ngủi, khô khan, kêu gọi chiến sĩ Quân Lực VNCH các cấp buông súng, ai ở đâu thì ở đó và chờ binh đội cộng quân đến bàn giao.

Chuẩn Tướng Vỹ nghiến răng miễn cưỡng ra lệnh cho binh sĩ treo cờ trắng trước cổng căn cứ và cho thuộc cấp giải tán. Trước khi chia tay, Chuẩn Tướng Vỹ đã mời các sĩ quan cùng ăn một bữa cơm cuối cùng với ông. Nhìn khuôn mặt trầm buồn và ánh mắt u uất của vị Tư Lệnh, các sĩ quan đoán chắc thế nào ông cũng tử tiết để bảo toàn danh dự người làm Tướng, nên họ đã khéo léo giấu hết súng. Bữa cơm vĩnh biệt được dọn ra, những hạt cơm trắng ngần trong khoảnh khắc đó dường như có vị mặn của máu và cứng ngắc như những hạt sỏi. Mọi người còn đang dùng cơm thì Chuẩn Tướng Vỹ bỗng bỏ ra ngoài đi nhanh về hướng chiếc trailer dùng làm văn phòng tạm cho Tư Lệnh. Các sĩ quan kinh hoàng nghe hai tiếng nổ đanh gọn phát ra từ chiếc trailer. Mọi người hối hả chạy ùa tới mở cửa thì thấy Chuẩn Tướng Vỹ nằm trên vũng máu và người đã thực sự ra đi, trên tay còn cầm khẩu Beretta 6.35 mà mọi người không nhớ là nó còn nằm trong chiếc trailer. Chuẩn Tướng Vỹ đã bắn vào phía dưới cằm, đạn đi trổ lên đầu. Khi các sĩ quan và binh đội CS vào tiếp quản doanh trại. sĩ quan sư đoàn cao cấp của địch đã nghiêng mình kính phục khí tiết của Chuẩn Tướng Vỹ và nói: “Đây mới xứng đáng là con nhà Tướng.”

Các chiến sĩ sư đoàn chuyển thi thể vị chủ tướng ra an táng trong rừng cao su gần doanh trại Bộ Tư Lệnh. Ít lâu sau, thi thể Chuẩn Tướng Vỹ lại được thân nhân bốc lên đem về cải táng ở Hạnh Thông Tây, Gò Vấp, Saigon. Năm 1987, bà cụ thân mẫu của Chuẩn Tướng Vỹ lặn lội vào Nam hỏa thiêu hài cốt của người anh hùng và đem về thờ ở từ đường họ Lê Nguyên tại quê nhà ở tỉnh Sơn Tây.

Cũng với tấm lòng của những người mẹ thương con bao la mênh mông như đại dương, bà cụ thân mẫu của Chuẩn Tướng Trần Văn Hai tuổi già tấm lưng còng còm cõi với thời gian, đã mưu trí gạt được quân cộng đang tràn ngập trong căn cứ Đồng Tâm, Mỹ Tho, nơi đặt Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh đem được thi thể vị Tư Lệnh về Gò Vấp mai táng. Bà rưng rưng nước mắt nghẹn ngào nhận gói di vật của con bà từ tay một vị Trung UÙy thuộc cấp, trong đó có một vài vật dụng cá nhân và số tiền hai tháng lương khiêm nhường của Chuẩn Tướng là 70.000 đồng. Là một người con hiếu thảo, trước khi ra đi người còn cố gửi về cho mẹ số tiền nhỏ bé đó. Lúc còn sống Chuẩn Tướng Hai nổi tiếng là vị Tướng thanh liêm, cuộc đời thanh đạm không có của cải vật chất gì đáng kể, ngoài chiếc xe Jeep của quân đội cấp cho, thì khi người ra đi, người chỉ để lại cho hậu thế thanh danh thần tướng cùng tấm lòng sắt son đối với dân tộc và tổ quốc.

Tài năng của Chuẩn Tướng Hai được xác định bằng những chức vụ quan trọng trong hệ thống quốc gia như Tỉnh Trưởng Phú Yên, Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân, Tư Lệnh Phó Quân Đoàn II; Quân Khu II, Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia và sau cùng là Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh. Đảm nhiệm những chức vụ cao tột như vậy mà người vẫn sống một cuộc sống bình dị, nghiền ngẫm kinh Phật, trên tay lúc nào cũng thấy những loại sách học hỏi khác nhau. Chuẩn Tướng Hai cũng nổi tiếng là vị Tướng thương yêu và chăm lo cho đời sống chiến binh các cấp dưới quyền hết mực, thậm chí coi thường cả mạng sống. Như câu chuyện đã trở thành huyền thoại về Đại Tá Hai, Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân, đầu năm 1968 đã cùng vài sĩ quan đáp phi cơ C123 ra tận chiến trường Khe Sanh và nhảy xuống, lặn lội ra tận từng chiến hào tiền tuyến thăm hỏi khích lệ chiến sĩ Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân, dưới những cơn mưa pháo rền trời của địch.

Năm 1974 định mệnh đã đưa Chuẩn Tướng Hai về làm Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh để tên tuổi của người lưu tại nghìn thu trong sử sách, bằng cái chết hào hùng mà đã làm địch quân kinh hoàng.

Trước ngày 30.04.1975 chừng hơn một tuần, đích thân Tổng Thống Thiệu cho máy bay riêng xuống rước Chuẩn Tướng Hai di tản, mặc dù Chuẩn Tướng Hai không phải là người thân cận hay thuộc phe phái của ông Thiệu, điều đó cho thấy uy tín của người rất lớn. Chuẩn Tướng Hai thẳng thắn từ chối và cương quyết ở lại sống chết với chiến hữu của ông. Chuẩn Tướng Hai trong ngày cuối cùng vẫn tươm tất uy nghi trong bộ quân phục tác chiến ngồi trong văn phòng Tư Lệnh chờ quân địch đến. Người ôn tồn khuyên bảo sĩ quan và chiến binh thuộc cấp trở về với gia đình, nhưng có một số vẫn nhất quyết ở lại bảo vệ vị chủ tướng của họ. Vì họ biết Chuẩn Tướng Hai sẽ không bàn giao căn cứ Đồng Tâm, hoặc nếu có bàn giao thì cái phương thức ông làm sẽ không phải là phương thức kiểu đầu hàng.

***

***

.

Xin Tròn Tuổi Loạn

Tôi không tham, không tham kho tàng vô tận.

Tôi không mê nét đẹp lộng lẫy giai nhân,

Tôi không mơ điện quí, cung son vàng,

bạo chúa hay ông hoàng,

quyền uy cao ngất thế gian.

Thương quê hương, qua non thế kỷ không cười.

Thương quê hương, thăng trầm chuyển biến không nguôi.

Lam Sơn ơi! Hồn Chí Linh, sông Đằng,

Vạn Kiếp, hay Hà Hồi, những dòng lịch sử đâu rồi?

ĐK:

Tôi chỉ xin! tôi chỉ xin, đầy lúa thơm quê mẹ hiền,

Hàn gắn quê cha muộn phiền, với niềm tin.

Cho tôi xin đóa hoa tình nụ còn phong kín,

Những chân thành ngọt niềm trinh nguyên,

Phút ban đầu ngỏ lời yêu em !

Xin an vui, cho anh lứa tuổi đăng trình.

Xin cho em, chuổi ngày buồn thoáng qua nhanh.

Cho xin thêm ngày tháng xanh màu hoài,

Để lớp trai thơ dại, đốt đèn đọc sách đêm dài.

***

One Response to 3.HùngCaQLVNCH

  1. vannho says:

    toi khong biet noi gi het chi buon muon khoc khi coi lai nhung hinh anh cu va nghe lai nhung bai hat hung ca Q.L.V.N.C.H

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s