1. Việt Nam Thập Tam Thái Bảo

Tận Trung Bảo Quốc – Hào Khí Trường Tồn

Nguyễn Thái Học

Bùi Tư Toàn

Bùi Văn Chuẩn

Nguyễn An

Hà Văn Lạo

Đào Văn Nhít

Ngô Văn Du

Nguyễn Đức Thịnh

Nguyễn Văn Tiềm

Đỗ Văn Sứ

Bùi Văn Cửu

Nguyễn Như Liên

Phó Đức Chính
***

.

Nguyễn Thái Học

(b.1902 – d. 1930)

_Sau khi cuộc khởi nghĩa Yên Bái thất bại, những nhà cách mạng lão thành Việt Nam trú ngụ ở Trung Hoa có sai anh Đoàn Kiểm Điểm trốn về nước mời Nguyễn Thái Học tạm lánh mặt qua bên ấy để dưỡng uy sức nhuệ và chờ một cơ hội hoạt động thuận tiện hơn.

_Nhưng mặc dầu đang bị lùng bắt một cách ráo riết, Nguyễn Thái   Học nhất định ỏ lại trong nước để tiếp tục cuộc  chiến đấu.

_Đoàn Kiểm Điểm ba lần vượt biên giới Trung Việt về tìm Anh, ba lần đều bị Anh cự tuyệt. Sau đây là những lời Nguyễn Thái Học nói vói Đoàn Kiểm Điểm:

Thôi! Kiểm Điểm ! Anh hãy về thưa lại

Cùng những người đã chẳng ngại xa xôi,

Đã ba lượt sai anh qua biên ải,

Vượt muôn trùng sông núi đến tìm tôi:

*

“Nguyễn Thái Học khó vâng lời chỉ dạy,

Xin cảm ân những bạn cố khuyên mời”.

*

Việc nước non thiếu chi ngưòi gánh vác,

Thiếu chi người lỗi lạc và tài ba,

Người này chết còn bao nhiêu kẻ khác

Nối tiếp nhau tranh đấu cho dân ta.

*

Thái Học chết vẫn không hư đại cuộc

Tôi đã từng cạn xét lẽ gần xa.

*

Tôi không thể cam tâm rời đất Việt

Khi muôn dân quằn quại giữa đau thương,

Tôi không thể đành lòng đi trốn chết

Lúc anh em xông xáo chốn sa trường,

*

Tôi không thể bỏ những người tuấn kiệt

Trong ngục tù, đang nát thịt tan xương.

*

Thà ỏ lại xông pha trong khói đạn

Cho kiếm hờn uống máu kẻ thù ta,

Và tranh đấu đến khi trong xán lạn

Giống Lạc Hồng vui hát khải hoàn ca.

*

Hoặc lấy chết để tạ lòng những bạn

Đã vì tôi lăn lóc giữa phong ba.

*

Thôi Kiểm Điểm ! Anh hãy về thưa lại

Cùng những người đã chẳng ngại xa xôi,

Đã ba lượt sai anh qua biên ải,

Vượt muôn trùng sông núi đến tìm tôi:

*

“Nguyễn Thái Học khó vâng lời chỉ dạy,

Xin cảm ơn những bạn cố khuyên mời”./.

T/g  Đằng Phương 

(cố G/s Nguyễn Ngọc Huy)

 

***

Phó Đức Chính

(b.1907 – d. 1930)

Phó Đức Chính (1907 – 1930) là nhà cách mạng Việt Nam, sáng lập viên, một trong những lãnh tụ của Việt Nam Quốc Dân Đảng, cánh tay phải của Đảng trưởng Nguyễn Thái Học.

Phó Đức Chính sinh năm 1907 trong một gia đình nho học tại làng Đa Ngưu (nay thuộc xã Tân Tiến) huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, Việt Nam. Ông là con út trong gia đình có 4 anh chị em, thân phụ là cụ Duy Chân. Cụ còn có tên khác là Đức Chân và Đức Tường. Cụ Duy Chân có 4 người con: Phó Đức Chỉ, Phó Đức Ước, Phó Thị Quy, và Phó Đức Chính. [1]

Tháng 12 năm 1927, Phó Đức Chính tham gia thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng, phụ trách công tác tổ chức và phát triển Đảng.

Sau khi tốt nghiệp trường Công chính, Phó Đức Chính được bổ nhiệm sang Lào làm việc.

Từ ngày 9 tháng 12 năm 1928, Phó Đức Chính giữ chức phó chủ tịch Việt Nam Quốc Dân Đảng.

Ngày 9 tháng 2 năm 1929, Nguyễn Văn Viên đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng xử tử Bazin. Ông này chuyên dụ dỗ, bắt cóc dân nghèo tại Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ đi làm phu, xem như nô lệ, cho các đồn điền cao su tại Nam Kỳ, Miên, Lào, Huế (có tài liệu nói là chợ Hôm), Hà Nội. Sau cuộc ám sát, Việt Nam Quốc Dân Đảng bị thực dân Pháp khủng bố ở khắp mọi nơi. Phó Đức Chính bị bắt ở Lào, kết án tù treo và bị bãi chức tham tá công chính.

Để phản công và tránh nguy cơ bị tan rã, mặc dù không nắm chắc vào thắng lợi, ngày 17 tháng 9 năm 1929 Tổng bộ Việt Nam Quốc Dân Đảng vẫn ra quyết định tổng khởi nghĩa với một câu nói nổi tiếng của Nguyễn Thái Học “Không thành công thì thành nhân.” Nghĩa là dù không thành công nhưng (cuộc khởi nghĩa này) sẽ trở thành một nhân tố cho các cuộc khởi nghĩa khác trong tương lai.

Ngày 26 tháng 1 năm 1930, Hội nghị Việt Nam Quốc Dân Đảng họp tại làng Mỹ Xá, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương ra quyết định tổng khởi nghĩa vào ngày 10 tháng 2 năm 1930. Sau này lịch sử gọi là cuộc tổng Khởi nghĩa Yên Bái.

Vì trong hàng ngũ đảng có phản bội, công việc chuẩn bị khởi nghĩa bị bại lộ, thực dân Pháp càn quét các khắp nơi khiến nhiều đảng viên bị bắt.

Do vũ khí thô sơ lại thiếu phương tiện liên lạc trong việc phối hợp và điều binh, nên lực lượng khởi nghĩa bị đánh bại. Ngày 15 tháng 2 năm 1930, Phó Đức Chính bị bắt tại làng Nam An, tổng Cẩm Thượng, huyện Tùng Thiện, Sơn Tây và bị giam ở ngục thất Hỏa Lò ở Hà Nội. Khi bị kết án tử hình, ông từ chối việc chống án với câu nói đầy khí phách sau đây:

Đại sự không thành! Chết là vinh! Còn chống án làm chi vô ích!

Chiều ngày 16 tháng 6 năm 1930, Pháp áp giải ông và Nguyễn Thái Học cùng 11 đảng viên VNQDĐ lên Yên Bái bằng xe lửa.

Lúc 5 giờ 30 phút sáng ngày 17 tháng 06 năm 1930, tại Yên Bái, thực dân Pháp dùng máy chém chặt đầu ông và 12 đồng chí khác, trong số đó có Đảng trưởng Nguyễn Thái Học:

  • Nguyễn Thái Học
  • Bùi Tư Toàn
  • Bùi Văn Chuẩn
  • Nguyễn An
  • Hà Văn Lạo
  • Đào Văn Nhít
  • Ngô Văn Du
  • Nguyễn Đức Thịnh
  • Nguyễn Văn Tiềm
  • Đỗ Văn Sứ
  • Bùi Văn Cửu
  • Nguyễn Như Liên
  • Phó Đức Chính

Phó Đức Chính là người thứ 12 bước lên máy chém. Ông là người duy nhất đã yêu cầu được nằm ngửa để xem lưỡi dao rơi xuống như thế nào.

Sau khi hành quyết các nhà cách mạng VNQDĐ tại Yên Bái, Pháp cho chôn chung một mộ. Năm 1945, quân đội Việt Nam Quốc Dân Đảng chiếm đóng Yên Bái, cho trùng tu mộ phần và lập đền thờ kỷ niệm. Ngày nay khu lăng mộ tọa lạc trong công viên An Hòa [2] thuộc tỉnh Yên Bái và được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa.

***

Ký Con

                        Đoàn Trần Nghiệp                         

Đoàn Trần Nghiệp (1908 – 1930), bí danh Ký Con, là nhà cách mạng Việt Nam, đảng viên Việt Nam Quốc dân đảng.

Thân thế

Đoàn Trần Nghiệp sinh năm 1908 tại phố Hàng Sơn, Hà Nội. Ông quê ở làng Khúc Thủy, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội).

Năm 1926, Đoàn Trần Nghiệp làm thư ký cho Hãng Godard ở Hà Nội.

Năm 1928, Đoàn Trần Nghiệp gia nhập Việt Nam Quốc Dân Đảng và được giao việc trông coi sổ sách cho khách sạn Việt Nam – một cơ sở do Việt Nam Quốc Dân Đảng mở ở số nhà 38 Hàng Bông (Hà Nội). Ông nhỏ con thắng trẻo như thư sinh, trong Việt Nam Quốc Dân Đảng ông lại nhỏ tuổi nhất nên mọi người gọi đùa là Ký Con.

Hoạt động cách mạng

Ngày 9 tháng 2 năm 1929, Nguyễn Văn Viên đảng viên Việt Nam Quốc dân đảng xử tử Bazin (một tay thực dân chuyên dụ dỗ, bắt cóc dân nghèo tại Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ đi làm phu cho các đồn điền cao su tại Nam Kỳ, Miên, Lào, nơi những người phu này bị đối xử như nô lệ) ở phố Huế (có tài liệu nói là chợ Hôm), Hà Nội. Việt Nam Quốc Dân Đảng bị thực dân Pháp khủng bố ở khắp mọi nơi, khách sạn Việt Nam bị đóng cửa, Ký Con bị bắt nhưng không có chứng cớ nên được thả.

Sau đó, ông được lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng Nguyễn Thái Học tin tưởng cử vào Ban ám sát (chuyên trừng trị những tay thực dân, Việt gian, những kẻ phản bội tổ chức _Hoàng Văn Tùng là trưởng ban).

Ngày 6 tháng 9 năm 1929, Đoàn Trần Nghiệp được giao nhiệm vụ ám sát Nguyễn Văn Kinh – một người phản bội tổ chức, gây nhiều thiệt hại cho Đảng. Ông đi xe đạp, đón đường, rút súng bắn vào đầu Nguyễn Văn Kinh, thản nhiên để vào ví kẻ phản bội bốn chữ “không giữ lời thề” rồi ung dung đạp xe đi.

Trước tình hình trong hàng ngũ đảng có phản bội, công việc chuẩn bị khởi nghĩa bị bại lộ, thực dân Pháp càn quét các khắp nơi, nhiều đảng viên bị bắt. Mặc dù không tin chắc vào thắng lợi, ngày 17 tháng 9 năm 1929 Tổng bộ Việt Nam Quốc dân đảng vẫn ra quyết định tổng khởi nghĩa với một câu nói nổi tiếng của Nguyễn Thái Học “Không thành công thì thành nhân”.

Ngày 26 tháng 1 năm 1930, Hội nghị Việt Nam Quốc Dân Đảng họp tại làng Mỹ Xá, huyện Nam Sách (Hải Dương) ra quyết định tổng khởi nghĩa vào ngày 9 tháng 2 năm 1930.

Đoàn Trần Nghiệp được phân công phụ trách ném bom ở Hà Nội. Ông tổ chức đội cảm tử gồm có Nguyễn Văn Liên, Mai Duy Xứng, Nguyễn Minh Luân, Nguyễn Quang Triệu, và Nguyễn Bá Tâm để ném bom ở năm địa điểm ở Hà Nội trong đó có nhà Chánh mật thám Arnoux, 2 trái; Hỏa Lò 8 trái; Sở Sen đầm 2 trái; cảnh sát Quận 1, 2 trái; cảnh sát Quận 2, 2 trái[1]. Tuy bom nổ nhưng không có ai thiệt mạng. Đoàn Trần Nghiệp bị truy nã khắp nơi, đầu ông được treo giá 5000 đồng.

Đền nợ nước

Tháng 6 năm 1930, ông bị mật thám bắt ở Nam Định và bị đưa về giam ở Hỏa Lò, Hà Nội. Khi được ký giả người Pháp Louis Roubaud phỏng vấn ông nói mục đích của ông là “ đánh đuổi người Pháp ra khỏi xứ An Nam”.

Ngày 5 tháng 8 năm 1930, Đoàn Trần Nghiệp bị kết án tử hình. Cuối tháng 12 năm 1930, Đoàn Trần Nghiệp, tức Ký Con bình thản cùng 6 đồng chí bước lên máy chém tại cổng trước nhà tù Hỏa Lò, Hà Nội.

Wiki

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s